Cách Tính Doanh Thu Thuần
Ba Khoản Giảm Trừ Và Những Khoản Không Phải Doanh Thu
- Cách tính doanh thu thuần: lấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ ba khoản giảm trừ là chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Đây là dòng đầu tiên của báo cáo kết quả kinh doanh, và là mẫu số của gần như mọi tỷ lệ tài chính khác.
- Ba khoản giảm trừ khác hẳn chi phí bán hàng. Phí sàn thương mại điện tử, hoa hồng đại lý và chiết khấu thanh toán trả sớm không trừ khỏi doanh thu, chúng nằm ở dòng chi phí. Trừ nhầm làm doanh thu thấp giả và giấu mất chi phí thật.
- Tiền về tài khoản không đồng nghĩa doanh thu. Thuế giá trị gia tăng đầu ra, tiền thu hộ, tiền đặt cọc và phần trả trước cho các kỳ sau đều là tiền trong ví nhưng không phải doanh thu của kỳ này.
- Thời điểm ghi nhận theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 gắn với việc chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích, không gắn với ngày khách chuyển khoản. Hợp đồng thu trước 12 tháng chỉ được ghi nhận dần theo từng tháng phục vụ.
- Lỗi phổ biến nhất ở doanh nghiệp nhỏ là lấy số tiền đối tác chuyển về ví làm doanh thu. Ở ví dụ 2 trong bài, cách làm đó khiến doanh thu thuần hụt 60 triệu đồng và xoá luôn một khoản phí bằng 12% doanh thu khỏi báo cáo.
Cách tính doanh thu thuần chỉ là một phép trừ, nhưng đây là phép trừ mà tôi thấy sai nhiều nhất khi đọc số liệu của các công ty đang chuẩn bị gọi vốn. Không phải sai vì cộng trừ nhầm, mà sai vì người lập báo cáo trừ nhầm nhóm khoản mục: trừ những thứ lẽ ra phải nằm ở dòng chi phí, và giữ lại những thứ lẽ ra không bao giờ được coi là doanh thu. Hậu quả không dừng ở một dòng số. Doanh thu thuần là mẫu số của biên lợi nhuận gộp, biên lợi nhuận ròng, tỷ lệ chi phí marketing trên doanh thu, và là con số đầu tiên nhà đầu tư nhìn khi mở bảng tài chính. Sai ở đây thì mọi tỷ lệ phía sau đều sai theo, và thường sai theo hướng làm công ty trông đẹp hơn thực tế.
Công Thức Cách Tính Doanh Thu Thuần Và Ba Khoản Giảm Trừ
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ − Các khoản giảm trừ doanh thu
Trong đó các khoản giảm trừ gồm đúng ba nhóm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, và hàng bán bị trả lại.
Mỗi nhóm có một bản chất riêng, và biết phân biệt chúng quan trọng hơn nhớ công thức.
- Chiết khấu thương mại là phần giảm cho khách vì khách mua nhiều. Khách sỉ lấy từ 50 sản phẩm trở lên được bớt 5%, đại lý lấy nguyên container được bớt 8%. Đây là giảm giá gắn với sản lượng, thoả thuận trước, và về bản chất là công ty chưa bao giờ bán được ở mức giá niêm yết cho nhóm khách đó.
- Giảm giá hàng bán là phần bớt sau khi đã bán, vì hàng không đúng như cam kết: sai màu, trầy xước, giao trễ, thiếu phụ kiện. Khách không trả hàng, nhưng đồng ý lấy với giá thấp hơn.
- Hàng bán bị trả lại là phần khách trả về và công ty phải hoàn tiền. Doanh thu của lô hàng đó bị xoá, và giá vốn tương ứng cũng phải được đưa ngược về kho.
Cả ba nhóm có chung một đặc điểm: chúng làm giảm số tiền công ty thực sự được hưởng từ chính giao dịch bán hàng đó. Đây là chìa khoá để phân biệt với chi phí bán hàng, phần dễ nhầm nhất và tôi sẽ mổ kỹ ở phần sau.
Lấy số ở đâu trên báo cáo
Trên mẫu báo cáo kết quả kinh doanh mà kế toán Việt Nam vẫn dùng, ba dòng này xếp liền nhau ở ngay đầu báo cáo: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản giảm trừ doanh thu, rồi doanh thu thuần. Chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng nhiều năm qua là Thông tư 200/2014/TT-BTC; từ ngày 01/01/2026, Thông tư 99/2025/TT-BTC thay thế Thông tư 200, nên mã số dòng trên biểu mẫu có thể đổi. Hãy nhờ kế toán chỉ đúng dòng trên bộ báo cáo tài chính của chính công ty bạn thay vì nhớ mã số theo trí nhớ.
Một lưu ý quan trọng với founder không làm kế toán: con số trên dòng doanh thu bán hàng là giá chưa có thuế giá trị gia tăng. Nếu bạn xuất hoá đơn 1,1 tỷ đồng đã gồm thuế suất 10%, doanh thu bán hàng là 1 tỷ, còn 100 triệu là thuế phải nộp thay cho người mua. Lấy số trên hoá đơn làm doanh thu là cách nhanh nhất để phồng doanh thu lên 10%.
Ví Dụ 1: Cửa Hàng Bán Lẻ Có Chiết Khấu Và Hàng Trả Lại
Bước 1 — Doanh thu bán hàng (chưa thuế): tổng các đơn đã giao trong tháng là 1.240.000.000đ.
Bước 2 — Liệt kê ba khoản giảm trừ: chiết khấu thương mại cho nhóm khách sỉ mua trên 50 sản phẩm 62.000.000đ; giảm giá hàng bán cho các đơn giao trễ và hàng trầy xước 18.600.000đ; hàng bán bị trả lại 99.200.000đ.
Bước 3 — Cộng giảm trừ: 62 + 18,6 + 99,2 = 179.800.000đ, tương đương 14,5% doanh thu bán hàng.
Bước 4 — Doanh thu thuần: 1.240 − 179,8 = 1.060.200.000đ.
Bước 3 là bước tôi bắt mọi chủ doanh nghiệp làm thành thói quen: luôn tính tỷ lệ giảm trừ trên doanh thu bán hàng. Con số 14,5% này là một chỉ số quản trị, không chỉ là một bước trung gian. Nó tăng dần qua các tháng nghĩa là một trong ba chuyện đang xảy ra: chính sách chiết khấu đang bị nới ra để chạy doanh số, chất lượng giao hàng đang xuống, hoặc sản phẩm đang có lỗi hệ thống. Theo dõi riêng từng nhóm giảm trừ sẽ chỉ đúng chuyện nào.
Vì sao dùng nhầm con số 1.240 lại nguy hiểm
Giả sử giá vốn hàng bán tháng đó là 689.130.000đ. Tính đúng, lợi nhuận gộp là 1.060,2 − 689,13 = 371,07 triệu, tức biên lợi nhuận gộp 35,0%. Nếu người lập báo cáo lấy doanh thu bán hàng 1.240 triệu làm mẫu số, biên gộp nhảy lên (1.240 − 689,13) ÷ 1.240 = 44,4%.
Chênh 9,4 điểm phần trăm chỉ từ một lần chọn nhầm dòng. Và con số sai này không nằm yên. Nó đi vào ngân sách quảng cáo tháng sau, vào quyết định có nên giảm giá thêm hay không, và vào bảng tài chính gửi nhà đầu tư. Cách tính biên lợi nhuận gộp và ngưỡng tham chiếu theo từng mô hình, tôi viết riêng trong bài cách tính lợi nhuận gộp.
Năm Điều Kiện Ghi Nhận Doanh Thu: Ghi Vào Tháng Nào
Phần lớn tranh cãi về doanh thu thuần không nằm ở phép trừ, mà nằm ở câu hỏi: khoản này có phải doanh thu của tháng này không. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 về doanh thu và thu nhập khác đặt ra năm điều kiện, phải thoả mãn đồng thời, mới được ghi nhận doanh thu bán hàng:
- Đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu hàng hoá cho người mua.
- Không còn nắm quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu, cũng không còn quyền kiểm soát hàng hoá đó.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn, tức biết được con số sẽ thu là bao nhiêu.
- Đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
- Xác định được chi phí liên quan tới giao dịch bán hàng đó.
Đọc kỹ năm dòng trên sẽ thấy một điều: không có dòng nào nhắc tới ngày khách chuyển khoản. Ghi nhận doanh thu gắn với việc bàn giao, không gắn với việc thu tiền. Đây là chỗ mà trực giác của founder thường đi ngược lại kế toán, và cũng là chỗ sinh ra hai lỗi trái chiều nhau.
Lỗi thứ nhất, ghi sớm: khách đặt cọc 30% để giữ đơn, công ty ghi luôn phần cọc vào doanh thu tháng đó. Nhưng hàng chưa giao, rủi ro chưa chuyển, điều kiện thứ nhất chưa thoả. Khoản cọc là một khoản phải trả, nếu đơn huỷ thì phải hoàn lại.
Lỗi thứ hai, ghi muộn: hàng đã giao tháng 8, khách hẹn thanh toán 45 ngày nên tiền về tháng 10, và công ty ghi doanh thu vào tháng 10. Cách này làm doanh thu nhảy múa theo kỳ hạn thanh toán của khách chứ không theo hoạt động thật. Đơn đã giao phải ghi vào tháng giao, phần chưa thu nằm ở khoản phải thu. Việc tiền chưa về là một vấn đề khác và phải quản riêng, tôi viết kỹ trong bài quản lý dòng tiền startup.
Với doanh thu cung cấp dịch vụ, nguyên tắc tương ứng là ghi nhận theo phần công việc đã hoàn thành. Một hợp đồng tư vấn sáu tháng không được ghi trọn vào tháng ký, dù tiền đã về đủ.
Ví Dụ 2: Doanh Thu Gộp Hay Ròng Khi Bán Qua Sàn Thương Mại Điện Tử
Đây là tình huống tôi gặp nhiều nhất ở các công ty bán hàng online, và cũng là nơi con số lệch nhiều nhất. Câu hỏi cốt lõi: bạn là người bán hàng của chính mình hay người bán hộ cho người khác. Hai vai trò này ghi nhận doanh thu khác hẳn nhau.
Dữ kiện: tổng giá trị đơn khách thanh toán 500.000.000đ; voucher do shop tự tài trợ 25.000.000đ; hàng khách hoàn 40.000.000đ; phí sàn, phí thanh toán và phí vận chuyển sàn thu lại 60.000.000đ. Cuối tháng sàn chuyển về ví shop 375.000.000đ.
Bước 1 — Doanh thu bán hàng: 500.000.000đ, vì hàng là của shop, shop chịu rủi ro tồn kho và rủi ro hoàn hàng.
Bước 2 — Khoản giảm trừ: voucher shop tài trợ 25 triệu là giảm giá hàng bán; hàng hoàn 40 triệu là hàng bán bị trả lại. Tổng giảm trừ 65.000.000đ.
Bước 3 — Doanh thu thuần: 500 − 65 = 435.000.000đ.
Bước 4 — Phí sàn 60 triệu: đây là chi phí bán hàng, không phải khoản giảm trừ doanh thu. Nó không đụng vào dòng doanh thu thuần.
Bước 5 — Đối chiếu: 435 − 60 = 375, đúng bằng số tiền sàn chuyển về ví. Khớp.
Bước 5 là phép kiểm tra tôi khuyên làm hàng tháng: doanh thu thuần trừ toàn bộ phí sàn phải ra đúng số tiền sàn đối soát. Lệch thì hoặc còn một loại phí chưa ghi, hoặc một phần hoàn hàng chưa được đưa vào.
Giờ xem điều gì xảy ra nếu chủ shop làm theo cách tiện nhất: lấy 375 triệu sàn chuyển về làm doanh thu. Doanh thu thuần bị ghi hụt 60 triệu đồng, và tệ hơn, khoản phí bằng 12,0% doanh thu bán hàng biến mất hoàn toàn khỏi báo cáo. Không dòng nào cho thấy sàn đang lấy bao nhiêu, nên không ai đặt được câu hỏi có nên đàm phán lại gói dịch vụ, có nên đẩy khách sang kênh riêng, hay sản phẩm nào không còn đủ biên để bán trên sàn.
Khi nào chỉ được ghi nhận phần hoa hồng
Đảo ngược tình huống: shop không sở hữu hàng, chỉ đăng bán hộ nhà cung cấp và hưởng 8% trên giá trị đơn. Hàng tồn là của nhà cung cấp, khách hoàn thì nhà cung cấp chịu, shop không gánh rủi ro nào ngoài công sức bán. Lúc này doanh thu của shop là 40.000.000đ tiền hoa hồng, không phải 500 triệu. Phần 460 triệu còn lại là tiền thu hộ, phải chuyển trả nhà cung cấp.
Chuẩn mực số 14 phân biệt rõ doanh thu với các khoản thu hộ: tiền thu hộ cho bên thứ ba không được ghi nhận là doanh thu của doanh nghiệp. Đây không phải chi tiết kỹ thuật vụn vặt. Một công ty trung gian ghi toàn bộ giá trị giao dịch thành doanh thu của mình sẽ có một dòng doanh thu to gấp mười lần thực chất, và bất kỳ nhà đầu tư nào làm thẩm định cũng sẽ phát hiện ngay ở buổi đối chiếu đầu tiên. Uy tín mất đi ở đó lớn hơn nhiều so với con số doanh thu đẹp thêm được.
Nhận Trọn Ebook "13 Bước Xây Dựng Công Ty" Miễn Phí
Ebook đầy đủ (không phải 1 chapter) — hướng dẫn từng bước xây dựng công ty sẵn sàng gọi vốn, gửi ngay về email, hoàn toàn miễn phí.
Nhận trong 60 giây · Không spam · Hủy bất cứ lúc nào
Bảng Phân Loại: Khoản Nào Trừ Khỏi Doanh Thu, Khoản Nào Không
Bảng dưới là thứ tôi yêu cầu mọi công ty tôi tham gia hội đồng quản trị dán cạnh bàn kế toán. Cột giữa trả lời đúng một câu hỏi: khoản này có làm giảm dòng doanh thu thuần không.
| Khoản mục | Có trừ khỏi doanh thu? | Ghi ở đâu |
|---|---|---|
| Chiết khấu thương mại (mua nhiều được bớt) | Có | Khoản giảm trừ doanh thu |
| Giảm giá hàng bán (hàng lỗi, giao trễ) | Có | Khoản giảm trừ doanh thu |
| Hàng bán bị trả lại | Có | Khoản giảm trừ doanh thu |
| Voucher do chính công ty tài trợ | Có | Giảm giá hàng bán |
| Chiết khấu thanh toán (trả sớm được bớt) | Không | Chi phí tài chính |
| Phí sàn, phí thanh toán, phí vận chuyển | Không | Chi phí bán hàng |
| Hoa hồng trả cho đại lý, cộng tác viên | Không | Chi phí bán hàng |
| Chi phí quảng cáo trên sàn | Không | Chi phí bán hàng |
| Thuế giá trị gia tăng đầu ra | Không phải doanh thu | Thuế phải nộp nhà nước |
| Tiền thu hộ bên thứ ba | Không phải doanh thu | Khoản phải trả |
| Tiền khách đặt cọc giữ đơn | Không phải doanh thu | Khoản phải trả (tới khi bàn giao) |
| Tiền trả trước cho các kỳ sau | Không phải doanh thu kỳ này | Doanh thu chưa thực hiện |
Bốn dòng cuối đáng chú ý nhất vì chúng đều là tiền đã nằm trong tài khoản ngân hàng. Đây là lý do một công ty có thể vừa dư tiền vừa chưa ghi được đồng doanh thu nào, và ngược lại.
Riêng chiết khấu thanh toán hay bị nhầm với chiết khấu thương mại chỉ vì tên gọi gần giống. Chiết khấu thương mại gắn với lượng hàng mua, nên là giảm trừ doanh thu. Chiết khấu thanh toán gắn với tốc độ trả tiền, bản chất là chi phí bạn trả để được cầm tiền sớm, tương đương lãi vay ngắn hạn, nên nằm ở chi phí tài chính.
Ví Dụ 3: Hợp Đồng Thu Trước 12 Tháng Và Doanh Thu Chưa Thực Hiện
Dữ kiện: ngày 01/10 ký hợp đồng thuê bao 12 tháng, khách trả trước toàn bộ 360.000.000đ. Kỳ báo cáo đang lập là quý 4, kết thúc ngày 31/12.
Bước 1 — Doanh thu mỗi tháng: 360 ÷ 12 = 30.000.000đ.
Bước 2 — Số tháng đã phục vụ trong quý 4: tháng 10, 11, 12, tức 3 tháng.
Bước 3 — Doanh thu ghi nhận quý 4: 30 × 3 = 90.000.000đ.
Bước 4 — Phần còn lại: 360 − 90 = 270.000.000đ nằm ở doanh thu chưa thực hiện, sẽ được ghi nhận dần trong ba quý sau.
Nếu ghi trọn 360 triệu vào quý 4, chuyện gì xảy ra? Doanh thu quý 4 phồng lên gấp bốn lần mức thật, rồi ba quý sau của hợp đồng đó không còn đồng doanh thu nào. Bảng doanh thu theo tháng sẽ có một cột dựng đứng rồi ba cột trũng sâu. Bất kỳ ai nhìn biểu đồ tăng trưởng của bạn cũng sẽ hỏi chuyện gì đã xảy ra sau tháng 12, và câu trả lời thật là: không có gì xảy ra cả, chỉ là doanh thu đã bị ghi sai chỗ.
Với mô hình thuê bao, phần doanh thu chưa thực hiện thực ra là một tin tốt cần được khoe đúng cách chứ không phải giấu đi. Nó là doanh thu đã chắc chắn của các kỳ tới, và nhà đầu tư đọc nó như một chỉ báo về độ ổn định. Cách trình bày đúng là tách riêng hai con số: doanh thu ghi nhận trong kỳ, và số dư doanh thu chưa thực hiện cuối kỳ. Các chỉ số định kỳ khác cho mô hình thuê bao, tôi liệt kê trong bài KPI startup nhà đầu tư quan tâm.
Trường hợp tương tự rất hay gặp ở doanh nghiệp thi công và sản xuất theo đơn đặt hàng: khách ứng trước 30% khi ký, 40% khi giao vật tư, 30% khi nghiệm thu. Hai đợt đầu là tiền ứng trước, chưa phải doanh thu. Doanh thu chỉ hình thành theo phần công việc đã hoàn thành và được nghiệm thu.
Case Thật: Doanh Thu Giảm Một Nửa Trên Giấy Mà Công Ty Khoẻ Lên
Tôi tham gia hội đồng quản trị Vua Cua, chuỗi nhà hàng cua và hải sản của founder Đoàn Thị Anh Thư, từ tháng 4 năm 2023. Thời điểm đó công ty đã lỗ liên tục từ 2020 đến 2023, nợ vượt quá khả năng trả, và niềm tin của nhóm nhà đầu tư cũ đã mòn đi vì nhiều kỳ không được cập nhật tình hình.
Một nguyên nhân cụ thể rút cạn dòng tiền là kênh bán qua hệ thống siêu thị, nơi kỳ hạn thanh toán kéo dài 30 đến 60 ngày. Trên báo cáo, mỗi đơn hàng vào siêu thị đều là doanh thu đẹp của tháng đó. Trong tài khoản, tiền về sau hai tháng, trong khi tiền mua nguyên liệu và trả lương thì phải chi ngay.
Quyết định tái cấu trúc là chuyển toàn bộ nhà hàng tự vận hành sang mô hình nhượng quyền. Founder chấp nhận một hệ quả mà đa số cổ đông phản đối kịch liệt: doanh thu tụt khoảng một nửa trên giấy. Tôi là người trong hội đồng quản trị ủng hộ toàn phần phương án này.
Lý do nằm đúng ở chủ đề bài này. Một cửa hàng do công ty tự vận hành thì toàn bộ hoá đơn của mọi khách ăn tại đó chảy vào dòng doanh thu của công ty, kèm theo đó là toàn bộ chi phí nguyên liệu, nhân sự và mặt bằng. Một cửa hàng nhượng quyền thì công ty chỉ ghi nhận phần phí mà đối tác nhận quyền trả, còn hoá đơn của khách ăn thuộc về đối tác. Con số doanh thu giảm không vì công ty bán được ít đi, mà vì bản chất khoản doanh thu được ghi nhận đã đổi.
Kết quả trong bốn tháng sau đó: thương hiệu Vua Bánh Canh mở tới 42 cửa hàng, khoảng 40 cửa hàng nhượng quyền mới, và dòng tiền chuyển dương đủ để bắt đầu trả nợ. Công ty còn ký được hợp đồng xuất khẩu chính ngạch triệu đô sang Mỹ với CTWS Group.
Bài học tôi rút ra và vẫn dùng khi ngồi hội đồng quản trị: khi dòng doanh thu thay đổi mạnh, câu hỏi đầu tiên không phải bán được nhiều hay ít hơn, mà là khoản doanh thu được ghi nhận có còn cùng bản chất không. So hai con số khác bản chất với nhau rồi kết luận công ty đang co lại là cách nhanh nhất để bác bỏ một quyết định đúng.
5 Lỗi Tính Doanh Thu Thuần Hay Gặp
Lấy số tiền đối tác chuyển về làm doanh thu
Sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển thu hộ và các nền tảng đặt món đều chuyển về số tiền đã trừ phí. Ghi số đó thành doanh thu vừa làm doanh thu thuần hụt, vừa xoá luôn dòng chi phí bán hàng khỏi báo cáo. Ở ví dụ 2, cách làm này giấu mất một khoản phí bằng 12,0% doanh thu bán hàng.
Ghi tiền đặt cọc và tiền trả trước vào doanh thu tháng thu tiền
Cọc giữ đơn và phần trả trước cho các kỳ sau là khoản phải trả, chưa phải doanh thu. Ghi sớm làm doanh thu của một tháng phồng lên rồi để lại một hố trũng ở các tháng sau, và trong trường hợp xấu nhất, ghi doanh thu cho một đơn cuối cùng bị huỷ.
Ghi doanh thu gộp khi mình chỉ là bên bán hộ
Công ty trung gian ghi toàn bộ giá trị giao dịch đi qua nền tảng thành doanh thu của mình. Chuẩn mực số 14 quy định tiền thu hộ bên thứ ba không phải doanh thu. Lỗi này luôn bị phát hiện ở buổi đối chiếu số liệu đầu tiên khi thẩm định, và cái mất là uy tín chứ không chỉ một dòng số.
Để hàng trả lại của tháng này trừ vào tháng sau
Đơn giao cuối tháng 8, khách trả lại đầu tháng 9, kế toán trừ vào tháng 9 cho tiện. Cách này đẩy doanh thu tháng 8 cao giả và làm tháng 9 gánh phần giảm trừ không thuộc về nó. Với ngành có tỷ lệ đổi trả cao, sai lệch tích lại đủ lớn để làm lệch hẳn xu hướng tăng trưởng theo tháng.
Quên tách thuế giá trị gia tăng khỏi doanh thu
Lấy tổng tiền trên hoá đơn làm doanh thu. Với thuế suất 10%, doanh thu bị phồng đúng 10%, và mọi tỷ lệ tính trên doanh thu đều bị kéo lệch theo. Tiền thuế đầu ra là khoản thu thay cho nhà nước, không phải phần công ty được hưởng.
Chốt lại, nếu chỉ nhớ được một câu từ bài này: khoản nào làm giảm số tiền bạn được hưởng từ chính giao dịch bán hàng thì trừ khỏi doanh thu; khoản nào là cái giá phải trả để bán được hàng thì nằm ở chi phí. Gần như mọi tình huống khó đều giải được bằng câu đó. Phần hạch toán chi tiết cho trường hợp cụ thể của công ty bạn, hãy để kế toán hoặc kiểm toán xác nhận.
Câu Hỏi Thường Gặp
Cách tính doanh thu thuần nhanh nhất là gì?
Lấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ ba khoản giảm trừ gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Ví dụ doanh thu bán hàng 1.240 triệu, tổng ba khoản giảm trừ 179,8 triệu thì doanh thu thuần là 1.060,2 triệu đồng.
Phí sàn thương mại điện tử có được trừ khỏi doanh thu không?
Không. Phí sàn, phí thanh toán và phí vận chuyển là chi phí bán hàng, không phải khoản giảm trừ doanh thu. Doanh thu thuần vẫn ghi theo giá khách trả, phí sàn nằm ở dòng chi phí phía dưới. Trừ nhầm sẽ làm doanh thu thấp giả và xoá mất một khoản chi phí đáng kể khỏi báo cáo.
Khách trả trước cả năm thì ghi doanh thu thế nào?
Chỉ ghi nhận phần tương ứng với thời gian đã phục vụ trong kỳ, phần còn lại nằm ở doanh thu chưa thực hiện. Hợp đồng 12 tháng thu trước 360 triệu, tới cuối kỳ mới phục vụ 3 tháng thì doanh thu kỳ đó là 90 triệu, còn 270 triệu chờ ghi nhận dần.
Doanh thu thuần khác doanh thu gộp thế nào?
Doanh thu gộp, hay doanh thu bán hàng, là tổng giá trị bán ra trước khi trừ bất cứ khoản nào. Doanh thu thuần là phần còn lại sau ba khoản giảm trừ, và đây mới là con số dùng để tính biên lợi nhuận và mọi tỷ lệ tài chính khác.
Tiền đã về tài khoản có chắc là doanh thu không?
Không chắc. Thuế giá trị gia tăng đầu ra, tiền thu hộ bên thứ ba, tiền khách đặt cọc và phần trả trước cho các kỳ sau đều là tiền trong tài khoản nhưng không phải doanh thu của kỳ này. Ngược lại, đơn đã giao mà khách chưa trả tiền thì vẫn là doanh thu của kỳ giao hàng.
Ghi nhận doanh thu theo ngày giao hàng hay ngày thu tiền?
Theo ngày chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích, thường là ngày giao hàng hoặc nghiệm thu, không phải ngày thu tiền. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 nêu năm điều kiện ghi nhận doanh thu và không điều kiện nào gắn với thời điểm khách chuyển khoản.
Pitch Deck · Định Giá · BOD · Cap Table A–Z · Go To Market
🎯 Đúng chủ đề bài này: Ebook "13 Bước Xây Dựng Công Ty"
Toàn bộ framework từ 16 founders đã gọi được 300+ tỷ VND. Nhận link trong 3 phút.
Muốn AI review pitch deck & tài chính của bạn ngay?
Upload deck, nhận phân tích điểm yếu theo góc nhìn NĐT, hỏi đáp không giới hạn về định giá, cap table, gọi vốn — AI được train từ 14 năm kinh nghiệm thực chiến của Hải H Nguyễn.
Doanh Nghiệp Doanh Thu >1 Triệu USD/Năm?
Có thể tham gia chương trình Coaching 1vs1 trong 03 tháng (Học phí 350.000.000đ) — thực chiến như các doanh nghiệp Nina Ecom Center, VinCSS, VietContent, HOPE, VCO Group, Vua Cua, Ana Academy, Baumarkt, Erent. Điền thông tin công ty tại link đăng ký — nếu phù hợp, BeginGuru sẽ liên hệ để bạn Zoom Call 45 phút tìm hiểu với chuyên gia Hải H Nguyễn.