Cách Tính Cổ Tức Ưu Đãi Và Cổ Tức Tích Luỹ
Từ Công Thức Tới Ví Dụ Khi Bán Công Ty
- Cổ tức ưu đãi = mức cổ tức đã thoả thuận × cơ sở tính × số cổ phần. Với cổ tức cố định 8%, cơ sở tính là giá phát hành 20.000đ thì mỗi cổ phần nhận 1.600đ; nếu hợp đồng chọn mệnh giá 10.000đ thì chỉ 800đ. Cùng một mức 8%, cơ sở tính khác nhau làm số tiền chênh gấp đôi.
- Cổ tức tích luỹ là cổ tức không trả trong năm thì dồn sang năm sau. Công thức đơn là giá phát hành × lãi suất × số năm; công thức kép là giá phát hành × ((1 + lãi suất)^số năm − 1). Với 8% trong 5 năm, đơn cho 40% giá phát hành, kép cho 46,93%.
- Khi bán công ty, cổ tức tích luỹ cộng vào khoản nhà đầu tư nhận trước cổ phần phổ thông. Ở ví dụ 2 (bán 12 tỷ đồng), có hoặc không có cổ tức dồn làm phần của founder và cổ đông phổ thông chênh từ 400 triệu tới hơn 750 triệu đồng.
- Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 117) có cổ tức cố định và cổ tức thưởng cho cổ phần ưu đãi cổ tức, nhưng tôi không thấy quy định gọi tên cổ tức tích luỹ. Cơ chế dồn cổ tức kiểu term sheet quốc tế thường phải thiết kế trong Điều lệ hoặc thoả thuận cổ đông và cần luật sư xác nhận.
Cách tính cổ tức ưu đãi nghe đơn giản: lấy một tỷ lệ phần trăm nhân với số tiền nhà đầu tư bỏ ra. Phần khó nằm ở ba câu hỏi mà hợp đồng thường trả lời mập mờ: phần trăm đó tính trên mệnh giá hay giá phát hành, cổ tức không trả có dồn sang năm sau hay mất luôn, và dồn theo kiểu cộng đơn hay cộng lãi kép. Ba câu trả lời này thay đổi một khoản mà nhà đầu tư nhận khi bán công ty từ vài chục tới hàng trăm triệu đồng, dù không ai đổi mức 8% ghi trên giấy. Bài này đưa công thức cho cổ tức không tích luỹ, tích luỹ đơn và tích luỹ kép, 2 ví dụ số đã kiểm tra phép tính (một công ty cổ phần Việt Nam có cổ tức cố định và cổ tức thưởng, và một đợt bán công ty có cổ tức dồn), phần đối chiếu Luật Doanh nghiệp 2020, và 5 lỗi tính sai hay gặp. Đây là bài về cách tính, không phải hướng dẫn đàm phán điều khoản; phần cảnh báo nằm trong bài liquidation preference.
Cách tính cổ tức ưu đãi: ba loại cổ tức và công thức từng loại
Cổ tức ưu đãi là khoản cổ tức mà chủ sở hữu một loại cổ phần được nhận theo điều kiện riêng, thường cao hơn hoặc được trả trước so với cổ tức của cổ phần phổ thông. Trong hợp đồng đầu tư, bạn sẽ gặp ba kiểu, và mỗi kiểu có một công thức:
| Kiểu cổ tức | Ý nghĩa | Công thức số tiền tích luỹ sau t năm (chưa ai trả) |
|---|---|---|
| Không tích luỹ (non-cumulative) | Chỉ được trả khi công ty tuyên bố chia. Không tuyên bố thì không nợ gì, không dồn sang năm sau | 0 |
| Tích luỹ đơn (cumulative, simple) | Mỗi năm phát sinh một khoản bằng lãi suất × giá phát hành, cộng dồn nhưng không tính lãi trên phần đã dồn | D = P0 × r × t |
| Tích luỹ kép (cumulative, compound) | Phần đã dồn tiếp tục sinh cổ tức ở các năm sau | D = P0 × ((1 + r)t − 1) |
Trong đó P0 là số tiền nhà đầu tư trả để mua số cổ phần ưu đãi (giá phát hành nhân số cổ phần), r là mức cổ tức hằng năm, t là số năm. Hợp đồng đầu tư kiểu Mỹ, cụ thể là mẫu term sheet của NVCA, đưa ra ba lựa chọn về cổ tức: chỉ chia theo cổ phần phổ thông, cổ tức tích luỹ theo tỷ lệ hằng năm thường trả khi thanh lý hoặc mua lại, hoặc cổ tức không tích luỹ khi hội đồng quản trị tuyên bố. Theo các tài liệu hướng dẫn về term sheet, startup giai đoạn đầu thường không có cổ tức hoặc chỉ có cổ tức không tích luỹ, còn cổ tức tích luỹ ít gặp hơn và hay xuất hiện ở các deal giai đoạn muộn hoặc một số ngành đặc thù.
Ở Việt Nam, khái niệm gần nhất là cổ phần ưu đãi cổ tức. Theo Điều 117 Luật Doanh nghiệp 2020, đây là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn cổ phần phổ thông; cổ tức hằng năm gồm cổ tức cố định (không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty) và cổ tức thưởng, và mức cố định cụ thể cùng phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu. Phần đối chiếu chi tiết ở mục sau. Còn về tính toán, cổ tức cố định của công ty cổ phần Việt Nam chạy theo cùng công thức nhân tỷ lệ với cơ sở tính; điểm khác nằm ở hai chỗ là cơ sở tính là gì và cổ tức có dồn hay không.
Ví dụ 1: cổ tức cố định và cổ tức thưởng ở công ty cổ phần Việt Nam
Con số dưới đây là giả định để minh hoạ, không phải công ty có thật. Cách dựng cổ tức thưởng chỉ là một trong nhiều cách; theo Điều 117, phương thức xác định cổ tức thưởng do cổ phiếu và hợp đồng quy định.
Cơ cấu. Công ty có 1.000.000 cổ phần: 900.000 cổ phần phổ thông và 100.000 cổ phần ưu đãi cổ tức. Mệnh giá 10.000 đồng. Nhà đầu tư mua 100.000 cổ phần ưu đãi ở giá phát hành 20.000 đồng, tức bỏ ra 2 tỷ đồng.
Điều khoản. Cổ tức cố định 8% mỗi năm tính trên giá phát hành, trả trước. Sau khi trả cổ tức cố định, phần lợi nhuận còn lại được phép chia đều cho mọi cổ phần, tính là cổ tức thưởng cho nhóm ưu đãi.
Năm chia cổ tức. Công ty đã đủ điều kiện chia và Đại hội đồng cổ đông quyết định chia tổng cộng 500 triệu đồng.
Bước 1. Cổ tức cố định. 8% × 20.000 = 1.600 đồng/cổ phần. Nhân 100.000 cổ phần = 160 triệu đồng.
Bước 2. Phần còn lại. 500 − 160 = 340 triệu đồng. Chia đều cho 1.000.000 cổ phần: 340 đồng/cổ phần.
Bước 3. Tổng cổ tức mỗi nhóm. Nhóm ưu đãi: 160 + 340 đồng × 100.000 (= 34 triệu) = 194 triệu đồng. Nhóm phổ thông: 340 đồng × 900.000 = 306 triệu đồng. Cộng lại: 194 + 306 = 500 triệu đồng.
Bước 4. So với không có ưu đãi. Nếu mọi cổ phần đồng hạng, mỗi cổ phần nhận 500 đồng; nhóm 100.000 cổ phần nhận 50 triệu đồng. Ưu đãi nâng phần của nhóm này từ 50 lên 194 triệu, tức chênh 144 triệu đồng, và nhóm phổ thông giảm từ 450 xuống 306 triệu đồng.
Nhóm ưu đãi chiếm 10% số cổ phần nhưng nhận 38,8% khoản cổ tức của năm đó (194 ÷ 500). Đó là lý do cổ đông phổ thông, gồm founder và nhân sự có ESOP, nên tính bảng này trước khi đồng ý cấu trúc cổ tức, đặc biệt khi công ty có lãi ít và cổ tức cố định chiếm phần lớn khoản chia. Trong ví dụ này, nếu tổng khoản chia chỉ có 160 triệu đồng thì toàn bộ số đó chảy về nhóm ưu đãi và cổ đông phổ thông không nhận gì.
Cơ sở tính: mệnh giá hay giá phát hành, và tính theo ngày
Cổ tức cố định ghi "8%" nhưng 8% của cái gì mới là câu hỏi quyết định. Ở ví dụ 1, hai cách đọc cho hai kết quả:
| Cơ sở tính | Số tiền cơ sở | Cổ tức 8% mỗi cổ phần | Cổ tức cả nhóm 100.000 cổ phần |
|---|---|---|---|
| Giá phát hành 20.000đ | 2.000.000.000đ | 1.600đ | 160.000.000đ |
| Mệnh giá 10.000đ | 1.000.000.000đ | 800đ | 80.000.000đ |
Chênh 80 triệu đồng mỗi năm, chỉ vì chữ "mệnh giá" thay chữ "giá phát hành". Nhà đầu tư mua ở giá cao hơn mệnh giá (điều rất bình thường ở startup) nên gần như luôn muốn tính trên giá phát hành. Founder cần đọc kỹ câu chữ này, và nếu nhà đầu tư đã hiểu 8% trên giá phát hành thì mọi bảng dự báo dòng tiền của công ty phải dùng đúng cơ sở đó.
Chi tiết thứ hai là thời gian. Khi cổ phần phát hành giữa năm, cổ tức năm đầu tính theo số ngày thực tế thay vì nguyên năm. Công thức: P0 × r × số ngày ÷ 365. Nếu nhà đầu tư trên trả 2 tỷ đồng vào ngày 01/07 với cổ tức 8%, cổ tức phát sinh đến hết 31/12 là 2.000.000.000 × 8% × 184 ÷ 365 ≈ 80,66 triệu đồng, chứ không phải 160 triệu. Hợp đồng nên ghi rõ quy ước số ngày (365 hay 360) vì hai quy ước cho hai con số khác nhau đến hàng trăm nghìn đồng ở khoản 2 tỷ đồng.
Cổ tức tích luỹ: cộng đơn và cộng kép khác nhau bao nhiêu
Nếu cổ tức không tích luỹ, năm nào công ty không chia thì khoản đó mất, và nhà đầu tư không còn quyền đòi. Cổ tức tích luỹ đảo ngược điều này: mỗi năm công ty không trả, khoản đó cộng dồn thành một khoản nợ cổ tức phải trả trước khi cổ đông phổ thông nhận đồng nào. Với khoản đầu tư 2 tỷ đồng và mức 8%, bảng dưới cho thấy bao nhiêu tiền dồn lại nếu công ty không trả gì:
| Số năm không trả | Tích luỹ đơn | Tích luỹ kép | Chênh nhau |
|---|---|---|---|
| 3 năm | 480.000.000đ (24,00%) | 519.424.000đ (25,97%) | 39.424.000đ |
| 5 năm | 800.000.000đ (40,00%) | 938.656.154đ (46,93%) | 138.656.154đ |
| 7 năm | 1.120.000.000đ (56,00%) | 1.427.648.538đ (71,38%) | 307.648.538đ |
Cách tính kép: 1,08 mũ 5 bằng 1,469328, trừ 1 còn 0,469328, nhân 2 tỷ đồng ra 938,66 triệu đồng. Con số 46,93% này cũng là lý do một phép tính có sẵn trong bài liquidation preference viết rằng cổ tức cộng dồn 8% một năm sau 5 năm làm khoản ưu tiên tăng khoảng 47% so với vốn gốc: đó là tích luỹ kép. Nếu văn bản chỉ ghi "cổ tức tích luỹ 8%/năm" mà không nói đơn hay kép, hai bên có thể tranh cãi cả chục phần trăm nợ cổ tức sau vài năm.
Trường hợp trả một phần: nếu công ty trả một khoản giữa chừng, bạn tính lại phần còn nợ. Ví dụ cộng đơn, 4 năm phát sinh 2 tỷ × 8% × 4 = 640 triệu đồng, đã trả 100 triệu thì còn nợ 540 triệu đồng. Với cộng kép, cách trừ khoản đã trả vào phần lãi hay phần gốc phải ghi trong văn bản, vì thứ tự trừ làm kết quả khác nhau.
Nhận Chapter Miễn Phí Ngay
"7 Sai Lầm Định Giá Startup Phổ Biến Nhất" — chapter trích từ Ebook Cách Định Giá Startup A–Z, gửi ngay về email, hoàn toàn miễn phí.
Nhận trong 60 giây · Không spam · Hủy bất cứ lúc nào
Ví dụ 2: bán công ty 12 tỷ đồng khi cổ tức tích luỹ được cộng vào khoản ưu tiên
Phần này nối cổ tức tích luỹ với thứ founder quan tâm nhất: mình nhận bao nhiêu khi công ty được bán. Con số là giả định để minh hoạ.
Cơ cấu. Công ty có 1.000.000 cổ phần fully diluted. Nhà đầu tư nắm 200.000 cổ phần ưu đãi (20%), giá phát hành 10.000 đồng, tức P0 = 2 tỷ đồng. Cổ phần ưu đãi có quyền ưu tiên nhận lại vốn 1 lần (1x liquidation preference, không tham gia chia thêm) và chuyển đổi được sang cổ phần phổ thông. Công ty không trả cổ tức nào trong 5 năm và bị bán với giá 12 tỷ đồng.
Bước 1. Cổ tức dồn. Tích luỹ đơn 8%: 2 tỷ × 8% × 5 = 800 triệu đồng. Tích luỹ kép: 2 tỷ × (1,085 − 1) ≈ 938,66 triệu đồng.
Bước 2. Khoản ưu tiên. Không cổ tức: 2 tỷ. Đơn: 2 tỷ + 800 triệu = 2,8 tỷ. Kép: 2 tỷ + 938,66 triệu ≈ 2,939 tỷ.
Bước 3. So với chuyển đổi. Nếu chuyển đổi thành cổ phần phổ thông, nhà đầu tư nhận 20% × 12 tỷ = 2,4 tỷ đồng. Họ chọn số lớn hơn giữa khoản ưu tiên và số này.
Bước 4. Ai nhận bao nhiêu. Số còn lại thuộc về cổ đông phổ thông (founder, nhân sự ESOP...).
| Phương án | Nhà đầu tư nhận | Cổ đông phổ thông nhận |
|---|---|---|
| Không cổ tức (hoặc không tích luỹ): chuyển đổi vì 2,4 tỷ > 2 tỷ | 2.400 triệu | 9.600 triệu |
| Tích luỹ đơn, chọn số lớn hơn: 2,8 tỷ > 2,4 tỷ nên lấy khoản ưu tiên | 2.800 triệu | 9.200 triệu |
| Tích luỹ kép, chọn số lớn hơn: khoản ưu tiên ≈ 2.938,7 triệu | ≈ 2.938,7 triệu | ≈ 9.061,3 triệu |
| Tích luỹ đơn, được nhận cổ tức dồn rồi vẫn chuyển đổi: 800 + 20% × 11.200 | 3.040 triệu | 8.960 triệu |
| Tích luỹ kép, được nhận cổ tức dồn rồi vẫn chuyển đổi: 938,7 + 20% × 11.061,3 | ≈ 3.150,9 triệu | ≈ 8.849,1 triệu |
Hai điều rút ra. Thứ nhất, cổ tức tích luỹ chỉ "cắn" vào phần founder khi số tiền bán không quá cao. Điểm chuyển đổi là khoản ưu tiên chia cho tỷ lệ sở hữu: 2,8 tỷ ÷ 20% = 14 tỷ đồng với cộng đơn, và 2,9387 tỷ ÷ 20% ≈ 14,69 tỷ đồng với cộng kép. Bán trên các mức này thì nhà đầu tư chuyển đổi và cổ tức dồn không còn tác dụng, nếu hợp đồng cho phép chọn một trong hai. Thứ hai, bẫy lớn nhất là dòng 4 và 5: văn bản cho phép nhận cả cổ tức dồn lẫn chuyển đổi. Khi đó chênh giữa phương án đầu và cuối lên tới khoảng 750,9 triệu đồng (9.600 − 8.849,1) cho cùng một mức bán 12 tỷ đồng. Cách tính cụ thể phần chia khi bán công ty theo từng loại ưu tiên nằm trong bài cách tính liquidation preference participating.
Đối chiếu Luật Doanh nghiệp 2020: cổ tức ưu đãi, điều kiện chia và chỗ luật chưa nói
Tôi đối chiếu các điều sau ở thời điểm viết (tháng 9/2026), qua nguồn thứ cấp là các trang hệ thống hoá văn bản luật và bài phân tích pháp lý, và chưa đọc bản hợp nhất chính thức. Bạn nên nhờ luật sư xác nhận điều khoản còn hiệu lực và cách áp dụng cho hồ sơ của mình.
- Điều 117 (Luật Doanh nghiệp 2020). Quy định cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn cổ phần phổ thông. Cổ tức hằng năm gồm cổ tức cố định không phụ thuộc kết quả kinh doanh, và cổ tức thưởng. Mức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng ghi trên cổ phiếu. Cổ đông sở hữu loại cổ phần này không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 148.
- Điều 135 khoản 1. Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi được thực hiện theo điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi.
- Điều 135 khoản 2. Với cổ phần phổ thông, công ty chỉ trả cổ tức khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo luật, đã trích lập các quỹ công ty và bù đủ lỗ trước đó theo quy định và Điều lệ, và vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn sau khi trả cổ tức.
- Luật số 76/2025/QH15 (sửa đổi Luật Doanh nghiệp, hiệu lực từ 01/07/2025) viết lại định nghĩa cổ tức là khoản lợi nhuận sau thuế được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền hoặc bằng tài sản khác.
Ba hệ quả thực dụng rút ra được từ các điều trên, đều mang tính đọc luật của một người không phải luật sư:
- Tôi không thấy khái niệm cổ tức tích luỹ được gọi tên. Trong các điều nêu trên, luật nói về cổ tức cố định và cổ tức thưởng, không có cơ chế dồn cổ tức không trả sang năm sau như term sheet kiểu Mỹ. Nếu bạn muốn cơ chế đó, cần soạn nó vào Điều lệ hoặc thoả thuận cổ đông và nhờ luật sư kiểm tra xem văn bản có hiệu lực thực thi hay không, nhất là khi công ty đang lỗ.
- Cổ tức cố định không đồng nghĩa với luôn trả được. Luật nói mức cố định không phụ thuộc kết quả kinh doanh, nhưng câu hỏi công ty có được trả khi đang có lỗ luỹ kế hay chưa đủ điều kiện ở khoản 2 Điều 135 là câu hỏi cách áp dụng, nằm ngoài phạm vi phép tính trong bài. Đừng ghi vào mô hình tài chính một khoản chi cổ tức cố định như một khoản nợ chắc chắn nếu chưa có ý kiến pháp lý.
- Khoản khấu trừ thuế nằm ngoài bài này. Cổ tức nhận về có thể chịu thuế thu nhập cá nhân hoặc được xử lý theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp tuỳ người nhận; thuế suất và cách áp dụng thay đổi theo từng thời kỳ văn bản. Bài này chỉ tính cổ tức trước thuế; cần kế toán tra văn bản hiện hành khi tính số tiền thực nhận.
Đọc điều khoản cổ tức trong hợp đồng: 6 câu hỏi trước khi ký
Với founder, cổ tức ưu đãi không phải khoản chi hằng năm mà là thứ cộng vào bảng chia tiền khi bán công ty. Trước khi ký, hãy trả lời được sáu câu hỏi sau bằng chính câu chữ trong hợp đồng:
- Cổ tức tính trên mệnh giá hay giá phát hành? Chênh gấp đôi trong ví dụ 1.
- Tích luỹ hay không tích luỹ? Không tích luỹ nghĩa là năm nào không tuyên bố thì mất, đơn giản và có lợi cho founder hơn.
- Nếu tích luỹ thì đơn hay kép? Với 8% trong 5 năm, kép hơn đơn khoảng 6,9 điểm phần trăm giá phát hành (46,93% so với 40%).
- Tích luỹ tới khi nào và dồn vào đâu? Chỉ trả khi thanh lý hoặc mua lại, hay còn cộng vào giá chuyển đổi? Câu chữ này quyết định dòng 4 và 5 trong bảng ví dụ 2.
- Nhận cả cổ tức dồn và chuyển đổi, hay chọn một? Đây là chênh lệch lớn nhất ở ví dụ 2.
- Điều kiện trả có bám điều kiện chia cổ tức của luật không? Câu chữ của Điều lệ nên nhắc tới lợi nhuận đủ điều kiện chia và thứ tự ưu tiên, thay vì hứa số tiền không điều kiện.
Nếu bạn cần mẫu văn bản để đối chiếu, mẫu thoả thuận cổ đông toàn văn có cách ghi các điều khoản về chia lợi nhuận và thay đổi chính sách cổ tức cần sự đồng ý của các bên, và bài cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông giải thích vì sao thực tế pháp lý Việt Nam khác kiểu Mỹ. Thuật ngữ Điều lệ công ty là nơi cần ghi các điều khoản này.
5 lỗi tính cổ tức ưu đãi và cổ tức tích luỹ hay gặp
Nhân tỷ lệ với mệnh giá trong khi hợp đồng nói giá phát hành (hoặc ngược lại)
Đây là lỗi làm lệch cả nghìn dòng tính sau đó. Đọc lại câu chữ về cơ sở tính, và ghi cơ sở đó trong đầu bảng tính, không chỉ trong hợp đồng.
Cộng đơn khi văn bản là kép, hoặc ngược lại
Sau 5 năm với 8%, hai công thức lệch nhau 138,66 triệu đồng trên khoản 2 tỷ đồng. Đừng để mỗi bên tự chọn công thức có lợi cho mình trong bảng tính; văn bản phải ghi rõ hoặc kèm ví dụ số.
Quên trừ cổ tức đã trả khi tính khoản còn nợ
Công ty trả một phần giữa chừng nhưng bảng tính vẫn cộng đủ cả năm. Khoản còn nợ = tổng phát sinh − đã trả, và với cộng kép thứ tự trừ vào phần lãi hay phần gốc phải ghi trong văn bản.
Gộp cổ tức tích luỹ vào liquidation preference mà bỏ qua chuyển đổi
Nhà đầu tư thường chọn số lớn hơn giữa khoản ưu tiên và số tiền khi chuyển đổi. Tính khoản ưu tiên lớn mà không so với giá trị chuyển đổi làm bạn tưởng founder mất nhiều hơn thực tế, ở mọi mức bán vượt điểm chuyển đổi (14 tỷ đồng trong ví dụ 2).
Đưa cổ tức cố định vào mô hình tài chính như khoản chi chắc chắn, hoặc dùng số trước thuế như số thực nhận
Điều kiện chia cổ tức của Điều 135 và thuế đều nằm giữa con số trên hợp đồng và số tiền thực tế chảy ra hoặc chảy vào. Ghi rõ trong mô hình đây là số trước thuế và chỉ trả khi đủ điều kiện, và nhờ kế toán tính phần còn lại.
Câu Hỏi Thường Gặp
Cổ tức ưu đãi tính như thế nào?
Cổ tức ưu đãi bằng mức cổ tức đã thoả thuận nhân với cơ sở tính (giá phát hành hoặc mệnh giá) nhân với số cổ phần. Ví dụ 100.000 cổ phần, giá phát hành 20.000đ, mức 8% cho 160 triệu đồng mỗi năm; nếu tính trên mệnh giá 10.000đ thì chỉ 80 triệu đồng. Hợp đồng phải ghi rõ dùng cơ sở nào.
Cổ tức tích luỹ khác cổ tức không tích luỹ ở đâu?
Với cổ tức không tích luỹ, năm nào công ty không tuyên bố chia thì khoản đó mất và không dồn sang năm sau. Với cổ tức tích luỹ, khoản chưa trả cộng dồn thành nợ cổ tức và được trả, thường khi bán hoặc thanh lý công ty, trước khi cổ đông phổ thông nhận tiền.
Cổ tức tích luỹ 8% mỗi năm sau 5 năm là bao nhiêu?
Trên khoản đầu tư 2 tỷ đồng, cộng đơn cho 800 triệu đồng (40%), cộng kép cho khoảng 938,66 triệu đồng (46,93%). Công thức đơn là giá phát hành × 8% × 5. Công thức kép là giá phát hành × (1,08 mũ 5 trừ 1).
Luật Doanh nghiệp 2020 có cho phép cổ tức tích luỹ không?
Điều 117 nói về cổ tức cố định và cổ tức thưởng cho cổ phần ưu đãi cổ tức, và tôi không thấy quy định gọi tên cổ tức tích luỹ trong các điều đã đối chiếu. Cơ chế này thường phải thiết kế trong Điều lệ hoặc thoả thuận cổ đông và cần luật sư xác nhận khả năng thực thi trước khi dùng.
Công ty đang lỗ có phải trả cổ tức ưu đãi cố định không?
Luật nói mức cổ tức cố định không phụ thuộc kết quả kinh doanh, nhưng việc công ty có được trả khi đang lỗ hoặc chưa đủ điều kiện chia tại Điều 135 là câu hỏi về cách áp dụng. Bạn nên xin ý kiến luật sư trước khi cam kết khoản chi này trong mô hình hoặc hợp đồng.
Pitch Deck · Định Giá · BOD · Cap Table A–Z · Go To Market
🎯 Đúng chủ đề bài này: Ebook "Cách Định Giá Startup"
Toàn bộ framework từ 16 founders đã gọi được 300+ tỷ VND. Nhận link trong 3 phút.
Muốn AI review pitch deck & tài chính của bạn ngay?
Upload deck, nhận phân tích điểm yếu theo góc nhìn NĐT, hỏi đáp không giới hạn về định giá, cap table, gọi vốn — AI được train từ 14 năm kinh nghiệm thực chiến của Hải H Nguyễn.
Doanh Nghiệp Doanh Thu >1 Triệu USD/Năm?
Có thể tham gia chương trình Coaching 1vs1 trong 03 tháng (Học phí 350.000.000đ) — thực chiến như các doanh nghiệp Nina Ecom Center, VinCSS, VietContent, HOPE, VCO Group, Vua Cua, Ana Academy, Baumarkt, Erent. Điền thông tin công ty tại link đăng ký — nếu phù hợp, BeginGuru sẽ liên hệ để bạn Zoom Call 45 phút tìm hiểu với chuyên gia Hải H Nguyễn.